Đóng

Chuyên khám và điều trị

Tê Đau & Dị Cảm Trong Các Bệnh Lý Nội Khoa Và Thần Kinh-Cơ Xương Khớp Thường Gặp

TÊ ĐAU & DỊ CẢM TRONG CÁC BỆNH LÝ NỘI KHOA VÀ THẦN KINH-CƠ XƯƠNG KHỚP THƯỜNG GẶP

PARESTHESIA & PAININ USUAL INTERNAL MEDICINE & NEUROLOGY-ORTHOPEDICS

BCV: BS HUỲNH VĂN PHỤNG – NỘI THẦN KINH

Dị cảm (Paresthesia) cảm giác châm chích (pins and needles), tê cóng, hay cảm giác như một chi đang bị liệt (asleep), mà nó có thể xảy ra thoáng qua hay thường trực.

I. Xảy ra thoáng qua:
Dị cảm xảy ra thoáng qua ở các chi (bàn tay, cẳng tay, bàn chân hay cẳng chân), nhưng cũng có thể xảy ra ở các phần khác của cơ thể. Thường do tì đè vô ý lên một dây thần kinh ở nông (do đứng lâu, ngồi xổm, ngồi vắt chân lên nhau…)  Chỉ cần thả lỏng ở tư thế thoải mái, xoa bóp nhẹ nhàng, đi lại xung quanh một vài phút sẽ hết tê.

II. Xảy ra thường trực:
Một khi Dị cảm xảy ra thường xuyên là biểu hiện có bất thường về chức năng hoạt động tế bào thần kinh.

Ở những bệnh nhân lớn tuổi thì Dị cảm thường do Suy yếu tuần hoàn ở các chi (như trong bệnh mạch máu ngoại biên), do xơ vữa Động mạch.

Nếu không được cung cấp máu và chất dinh dưỡng thích hợp, những tế bào thần kinh không thể gởi những tín hiệu đầy đủ đến não, cho nên Dị cảm có thể là triệu chứng của thiếu hụt vitamin và suy dinh dưỡng, cũng như những rối loạn chuyển hóa như Tiểu đường, Suy giáp, tuyến cận giáp.

Fig. 1. Đường dẫn truyền cảm giác từ Da đến Não. Những đầu tận cùng của Sợi trục chuyên biệt ở Da sẽ thu nhận những tín hiệu về cảm giác đau và cg bản thể,đi đến Sừng sau ở khoanh tủy tương ứng và cao hơn . Tín hiệu tiếp tục đi lên theo những đường Gai đồi thị bên và trước và Bó dọc trong đến thân não và đồi thị trước khi kết thúc ở Võ não

• Do đó Dị cảm có thể phản ánh sự tổn thương từ Thùy Đính, Đồi thị, bó Gai đồi thị hay những dây thần kinh ngoại biên hoặc tủy sống – Đó là vòng dẫn truyền thần kinh dẫn truyền và diễn giải những kích thích cảm giác.
• Dị cảm mãn tính – là triệu chứng của những tình trạng trầm trọng, như cơn thiếu máu não, U não, hoặc bệnh lý tự miễn như Xơ cứng rải rác or lupus ban đỏ. Nhiễm siêu vi Herpes Zoster cũng có thể tấn công vào những dây thần kinh gây ra cảm giác tê cóng thay vì cảm giác Đau mà nó thường kèm theo những bóng nước.
• Sự kích thích dây thần kinh còn có thể do hiện tượng viêm từ những mô xung quanh. Những bệnh lý khớp như Viêm khớp dạng thấp và hội chứng ống cổ tay là những bệnh lý thường gặp.
• Một nguyên nhân thường gặp nữa là do tổn thương trực tiếp những dây thần kinh, hoặc bệnh lý thần kinh (Bệnh lý thần kinh ngoại biên: bệnh lý Đơn thần kinh, Viêm đa dây thần kinh, viêm nhiều dây thần kinh, bệnh lý Rể thần kinh).
• Dị cảm ở miệng,bàn tay và bàn chân cũng thường gặp , những triệu chứng thoáng qua có liên quan đến hội chứng tăng thông khí và những cơn hoảng sợ.

Những Nguyên Nhân khác của Dị Cảm
• Nghiện rượu
• Dùng thuốc chống Động kinh như topiramate
• Mất nước
• Đau xơ cơ
• Ngộ độc kim loại nặng. Lidocaine
• Đau đầu Migraine
• Xơ cứng rải rác
• Ngộ độc phóng xạ
• Vitamin B12
Viêm đa dây thần kinh hủy tự miễn (CIDP)
• Guillain-Barre Syndrome (GBS)

III. History & physical examination:
Triệu chứng bất thường cảm giác có từ khi nào? Nói bệnh nhân mô tả đặc tính và phân bố của những triệu chứng đó

Những triệu chứng và dấu hiệu kèm theo như là Mất cảm giác và tình trạng yếu liệt
• Hỏi bệnh sử, bao gồm những bệnh lỳ thần kinh, tim mạch ,chuyển hóa, bệnh thận và bệnh lý viêm mãn tính, như Viêm khớp hoặc Lupus ban đỏ
Tìm kiếm một tình trạng tổn thương hay có thủ thuật xâm nhập mà chúng có thể gây tổn thương hệ thần kinh ngoại biên

Những câu hỏi tiếp cận thông dụng:
• Dị cảm xuất phát từ ngoại vi đi vào hay từ trung ương đi ra (vd tử cổ gáy hay từ lưng hay có tê mặt?)
• Dị cảm kiểu trung ương hay ngoại biên (có biểu hiện tổn thương thần kinh sọ ? phân bố cảm giác như thế nào? phản xạ gân cơ ra sao, tăng hay giảm? yếu liệt kiểu gốc chi hay ngọn chi ? và các dấu hiệu bệnh lý tháp?…)

Ta thường gặp những kiểu triệu chứng sau:
• Đau mỏi gáy cổ lan xuống nữa người hoặc kèm theo triệu chứng Tê một bên
• Tê /dị cảm mặt trong cánh tay lan xuống ngón 4/5 chẳng hạn , khi nằm lâu /để tay chân ở vị trí cố định trong 1 khoảng thời gian nào đó
• Tê kiểu châm chích ,nóng bỏng tứ chi kiểu của bệnh lý viêm đa dây thần kinh trong Tiểu đường, bệnh lý tổn thương đa rể / nhiều rể -dây thần kinh
• Những bệnh lý tê đau của hội chứng ống cổ tay /dị cảm trong hội chứng hạ can xi máu tiềm ẩn
• Tê yếu kiểu trung ương kèm theo thay đổi cảm giác, phản xạ và có tổn thương thần kinh sọ và dấu hiệu bệnh lý bó tháp

IV. Treatment
• Do Bs thần kinh quyết định. Thường phải cần chụp CT Scan để chẩn đoán
• Thuốc bao gồm những thuốc ức chế miễn dịch, Prednisone, gamma globulin đường tĩnh mạch (IVIG), thuốc Gabapentin or thuốc kháng siêu vi.
• Trong một số trường hợp, Lắc đầu qua lại có thể loại bỏ những triệu chứng châm chích.
Sự chèn ép thần kinh ở chi dưới mà chúng chi phối bàn chân, việc đứng dậy đi lại 1 vòng sẽ giúp làm giảm triệu chứng tê dị cảm. Ta cũng có thể đánh thức một tay đang “bị ngủ” cảm giác như tê dại bằng cách nắm mở bàn tay một cách nhanh chóng nhiều lần; Chuyển động cơ sẽ làm tang lưu lượng máu và giúp chi hoạt động trở lại bình thường.

Một số bệnh lý thường gặp

Viêm Khớp
Viêm khớp dạng thấp hoặc việm xương khớp ở vùng cột sống cổ có thể gây ra Dị cảm ở vùng cổ, vai và cánh tay. Ở vùng cột sốn thắt lưng gse4 gây dị cảm ở một hoặc 2 chân và bàn chân .

Thoát vị Đĩa Đệm
Thoát vị đĩa đệm ở vùng cột sống cổ hay thắt lưng có thể gây ra Dị cảm xảy ra cấp tính hoặc từ từ dọc theo vùng chi phối của những dây thần kinh tủy sống bị ảnh hưởng .

Hội chứng Tăng thông khí:
Thường do yếu tố lo lắng có thể gây ra Dị cảm tạm thời ở bàn tay, bàn chân , quanh miệng, bệnh nhân còn cảm thấy căng thẳng kích động, chóng mặt,thỉu , da xanh tái nhợt nhạt ,xoắn vặng cơ và yếu , co quắp bàn tay và loạn nhịp tim .

Hạ Canxi:
Dị cảm không đối xứng thường xảy ra ở các ngón tay ngón chân, và vùng quanh miệng xảy ra sớm trong quá trình bệnh lý . Những triệu chứng và dấu hiệu khác bao gồm yếu cơ, co thắt, hoặc vọp bẻ; trống ngực; co quắp bàn tay; dấu hiệu Chvostek va Trousseau dương tính.

Tiểu Đường
Bệnh lý thần kinh do Tiểu Đường gây dị cảm với cảm giác nóng bỏng ở bàn tay và bàn chân, và những biểu hiện khác mệt mỏi ,tiểu nhiều,ăn nhiều, khát nhiều và sụt cân.

Nhiễm Virus Herpes Zoster
Biểu hiện sớm của bệnh lý này là Dị cảm ở vùng phân bố da do thần kinh tủy sống chi phối bị ảnh hưởng.

Trong vòng vài ngày, Vùng da này sẽ bị nổi Hồng ban mụn nước gây ngứa kèm theo tình trạng Đau giật nhói, bỏng rát.

Bệnh lý thần kinh ngoại biên:
Có thể gây ra Dị cảm tứ chi. Bệnh nhân cũng thường có biểu hiện yếu cơ, mà nó có thể gây liệt mềm và teo cơ; mất cảm giác rung âm thoa; giảm phản xạ gân cơ; đau thần kinh; những thay đổi ở da , như đỏ và khô da

Chấn thương thần kinh ngoại biên
Tổn thương bất kỳ dây Thần kinh lớn nào cũng có thể gây ra Dị cảm—thường là giản cảm giác—trong vùng chi phối của dây thần kinh đó. Dị cảm xảy ra một thời gian ngắn sau chấn thường và có thể xảy ra thường trực. Những biểu hiện khác bao gồm Liệt mềm và yếu, giảm phản xạ, và mất cảm giác.

Cơn thoáng thiếu máu não (TIA)
• Điển hình là Dị cảm xảy ra kịch phát khi có cơn thoáng thiếu máu não và giới hạn ở 1 tay hay một phần nào khác của cơ thể. Nó thường kéo dài khoảng 10 phút và thường kèm theo tình trạng yếu hoặc liệt. Những triệu chứng kèm theo bao gồm giảm ý thức , choáng váng , mất thị lực một bên, mất ngôn ngữ, rối loạn vận ngôn, ù tai và liệt mặt,
Đột quỵ:
• Mất cảm giác thường gặp hơn là tình trạng Dị cảm đối bên bị đột quỵ . Những triệu chứng kèm theo có thể thay đổi tùy theo vùng chi phối của Động mạch bị ảnh hưởng , bao gồm Liệt đối bên tổn thương, Giảm ý thức, và bán manh đồng danh

Tổn thương tủy sống
Dị cảm có thể xảy ra trong cắt ngang tủy sống một phần, sau khi qua giai đoạn sốc tủy. Nó có thể xảy ra một bên hay bên, ngang mức hay dưới mức san thương.

Hội chứng Guillain-Barré:
Dị cảm tạm thời có thể xảy ra trước yếu cơ, thường bắt đầu ở cẳng chân và lan dần lên tay và thần kinh mặt.

U não
Nhửng u não ảnh hưởng đến võ não cảm giác ở thùy Đính có thể gây ra Dị cảm đối bên tiến triển kèm theo mất nhận thức, mất thực dụng, mất chữ viết và bán manh đồng danh

Chấn thương đầu:
Dị cảm một hay 2 bên có thể xảy ra khi chấn thương đầu gây ra chấn động hay dập não ; tuy nhiên mất cảm giác thì thường gặp hơn..

Ngộ độc kim loại nặng hoặc dung môi:
Sự tiếp xúc với những sản phẩm công nghiệp hay nhà cửa có chứa đồng ,chì,chất tali, hay phốt phát hữu cơ có thể gây ra dị cảm khởi phát cấp tính hoặc từ từ

Đau đầu Migraine
Dị cảm ở bàn tay, mặt và vùng quanh môi có thể báo động cơn Đau đầu Migraine . Những triệu chứng tiền triệu khác bao gồm Ám điểm, yếu ½ người, lú lẫn, choáng váng ,và sợ ánh sáng.

Một số nguyên nhân khác
Xơ cứng rải rác từng đám:
Trong bệnh lý này , có hủy Myelin ở vùng võ não cảm giác hoặc bó gai đồi thị có thể gây ra Dị cảm—mà nó là một trong những triệu chứng sớm nhất.

Dại
Dị cảm, lạnh, và ngứa ở vị trí bị cắn cảnh báo giai đoạn tiền triệu của bệnh.

Bệnh Raynaud’s:
Những ngón tay trở nên tái xanh, lạnh và tím tái khi tiếp xúc với lạnh hoặc căng thẳng ; khi làm ấm trở lại, chúng trở nên đỏ và Dị cảm

Những bệnh lý Động kinh
Những cơn co giật bắt nguồn từ võ não thùy Đính thường gậy Dị cảm ở môi, các ngón tay và ngón chân.

U tủy sống
Dị cảm, yếu liệt, đau, và mất cảm giác dọc theo những dây thần kinh của đoạn tủy chi phối bị ảnh hưởng do u gây ra.

Lupus ban đỏ hệ thống
Bệnh lý này có thể gây ra Dị cảm, nhưng dấu hiệu chủ yếu và nguyên thủy là, viêm khớp không biến dạng, tình trạng nhạy cảm ánh sáng, và phát ban hình cánh bướm vắt ngang qua mũi má.

Giang mai thần kinh
Trong bệnh lý này, Dị cảm – đặc biệt là ở cẳng chân —là triệu chứng thường gặp nhưng xuất hiện trễ

MỘT VÀI VÍ DỤ MINH HOẠ
Đau thần kinh tọa


Thần kinh tọa là một bó sợi thần kinh, bao gồm những sợi thần kinh thắt lưng 4 – 5 và ba rể thần kinh cùng đầu tiên. Sự chèn ép và rối loạn chức năng dọc theo những mức thần kinh tủy sống này có thể gây đau thần kinh tọa điển hình lan dọc xuống mặt sau đùi; và xuống cẳng chân và bàn chân.

Hội chứng ổng cổ tay


Triệu chứng
Hội chứng ống cổ tay điển hình bắt đầu từ từ với tình trạng đau mơ hồ vùng cổ tay sau đó lan lên bàn tay và cẳng tay. Những triệu chứng khác của ống cổ tay bao gồm:
Châm chích hay tê cóng ở ngón tay và bàn tay, đặc biệt ngón cái, ngón trỏ và ngón giữa, hoặc ngón đeo nhẫn, nhưng ko có tê ở ngón út. Tê tay thường xảy ra khi lái xe hoặc giữ điện thoại hoặc tờ báo hay lúc thức dậy. Nhiều người phải vẫy tay để làm giảm đi triệu chứng.
Đau lan từ cổ tay đến cẳng tay và vai hoặc đau lan xuống lòng bàn tay hoặc ngón tay, đặc biệt là sau khi cử động những động tác lặp đi lặp lại hoặc gắng sức.
Cảm giác yếu bàn tay và cầm nắm đồ vật dễ rớt
Mất cảm giác ở những ngón tay khi bệnh tiến triển

CHỨNG HẠ CANXI MÁU TIỀM ẨN (LATENT TETANY)


Chứng hạ canxi máu là 1 hội chứng thường gặp:
• Biểu hiện với những dấu hiiệu kích thích thần kinh cơ toàn thân.
• Bao gồm những triệu chứng Dị cảm, co thắt cơ, co thắt thanh quản, tetany và co giật.

Hạ canxi máu: Là hội chứng thường gặp, có thể xảy ra:
– Trong một số tình huống lâm sàng;
– Hiện diện với những dấu hiệu kích thích thần kinh cơ toàn thể;
– Bao gồm những triệu chứng dị cảm, co rút cơ, co thắt thanh quản, dấu hiệu hạ canxi và co giật.

Tetany (Một tình trang tăng hoạt của thần kinh ngoại biên thường liên quan đến hạ can xi máu, hạ magne máu hay nhiễm kiềm) là 1 biểu hiện thường gặp nhất của chứng hạ canxi máu tiềm ẩn, bao gồm 2 loại:

1) Tetany do chuyển hoá: Trong chứng hạ canxi máu do:
• Suy cận giáp
• Rối loạn hấp thu Calcium hoặc thiếu Vitamin D
• Tình trang nhiễm kiềm và hạ Magnesium

2) Tetany do căn nguyên thần kinh:
– Tạng co thắt;
– Rối loạn chức năng (Rối loạn thần kinh thực vật);
– Trạng thái kích thích/ hội chứng tăng thông khí trong những tình huống khó khăn/bị căng thẳng;
– Mà trong những tình huống đó, cũng có vai trò của rối loạn chuyển hoá( hạ magne) và nhiễm toan chuyển hoá do tăng không khí.

Cơn Tetany bắt đầu bằng dị cảm quanh miệng, ngón tay và ngón chân và đi trước tình trặn xoắn vặn và co thắt cơ (như hình ảnh) ở bản tay và bàn chân, trong những trường hợp trầm trọng có thể gây co cứng cơ toàn thân và co khít thanh quản

3) Rối loạn mãn tính giữa các cơn, còn được gọi là Chứng hạ canxi máu tiềm ẩn
Những triệu chứng lâm sàng không rõ ràng Dễ bị chẩn đoán nhầm, như:

• Hồi hộp, dễ bị mệt;
• Hụt hơi, căng thẳng;
• Nặng ngực, thở dài;
• Choáng váng, đau đầu;
• Dị cảm và yếu.

Cho nên hầu hết các bệnh nhân thường đi khám bác sĩ than phiền về triệu chứng tim mạch và hô hấp với được chẩn đoán là: rối loạn thần kinh tim, rối loạn thần kinh thực vật, bệnh giả đò và rối loạn tiền đình.

BỆNH LÝ THẦN KINH NGOẠI BIÊN
Bệnh lý thần kinh ngoại biên thường gây Đau và tê cóng ở bàn tay và bàn chân, đau thường được mô tả như cảm giác châm chích hoặc nóng bỏng, còn phân bố mất cảm giác giống như đi găng, mang vớ.

Triệu chứng và dấu hiệu
Bệnh lý thần kinh ngoại biên thường bắt đầu ở những dây thần kinh ngoại biên dài nhất như ở các ngón chân, và những dấu hiệu bao gồm:
– Tê cóng châm chích xảy ra từ từ ở bàn chân và bàn tay lan đến cẳng chân và cẳng tay;
– Cảm giác đau nóng bỏng, đau nhói hoặc đau như điện giật;
– Rất nhạy cảm với cảm giác sờ, đặc biện sờ nhẹ;
– Yếu hoặc liệt cơ nếu những dây thần kinh vận động bị tổn thương;
– Rối loạn chức năng bàng quang hoặc đường ruột nếu những dây thần kinh tự động bị tổn thương.